Hiện tượng thực tế và những mảnh ghép thông tin
Báo cáo từ Bộ Công Thương (17/06/2026) ghi nhận tổng lượng xăng tiêu thụ trên toàn quốc trong 14 ngày đầu lộ trình xăng sinh học E10/E5 đạt khoảng 520 triệu lít.
Trong đó, xăng E10 chiếm 485 triệu lít và xăng E5 chiếm 35 triệu lít. Mức tiêu thụ này cao hơn so với giai đoạn trước khi chuyển đổi.
Hệ thống phân phối gồm hơn 17.000 cửa hàng xăng dầu trên cả nước đã chuyển đổi sang phân phối xăng E10 từ ngày 01/6/2026.
| Chỉ tiêu | Số liệu |
|---|---|
| Tổng lượng xăng tiêu thụ (1/6-15/6) | 520 triệu lít |
| Khối lượng xăng E10 | 485 triệu lít |
| Khối lượng xăng E5 | 35 triệu lít |
| Số cửa hàng xăng dầu thực hiện lộ trình | > 17.000 cửa hàng |
| Thương nhân đầu mối đã đầu tư hệ thống phối trộn | 13/26 thương nhân |
| Doanh nghiệp được cấp phép hoạt động phối trộn | 7 doanh nghiệp |
| Tổng công suất phối trộn, pha chế | 1,1 triệu m³/tháng |
| Hiệu lực Nghị quyết 29/2026/NQ-CP | 01/6/2026 - 15/6/2028 |
Nguồn: Bộ Công Thương, Chinhphu.vn.
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 29/2026/NQ-CP (ngày 16/6/2026) thí điểm các chính sách liên quan đến xăng E10 RON95-III. Xăng E10 RON95-III được xác định là mặt hàng tiêu dùng phổ biến do Nhà nước công bố giá cơ sở, thay thế xăng RON95-III.
Bộ Công Thương và Bộ Tài chính chịu trách nhiệm xác định các yếu tố cấu thành giá cơ sở và công bố giá thí điểm.
Bản chất dòng tiền đang vận hành ra sao
Việc chuyển đổi sang xăng E10 mang tính cấu trúc, ảnh hưởng đến dòng tiền trong chuỗi cung ứng năng lượng Việt Nam. Dòng tiền ròng từ xăng khoáng RON95-III chuyển dịch dần sang xăng pha ethanol (E10).
Áp lực chi phí vốn cho các thương nhân đầu mối gia tăng do phải đầu tư hệ thống phối trộn, pha chế. 13/26 thương nhân đã đầu tư, nhưng chỉ 7 doanh nghiệp được cấp phép, tạo sự tập trung nguồn cung.
Rủi ro thanh khoản trong ngắn hạn thấp vì công suất phối trộn đạt 1,1 triệu m³/tháng, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thực tế khoảng 520 triệu lít/14 ngày (tương đương ~1,11 triệu m³/tháng).
Chính sách giá cơ sở mới cho E10 RON95-III làm thay đổi cơ chế điều hành giá, ảnh hưởng đến biên lợi nhuận của các thương nhân đầu mối. Xăng E10 RON95-III chịu sự kiểm soát giá trực tiếp từ Nhà nước, giảm độ linh hoạt trong điều chỉnh theo giá thị trường thế giới.
Tâm lý phòng thủ tài sản (risk-off) xuất hiện ở nhóm cổ phiếu năng lượng truyền thống, đặc biệt là các doanh nghiệp phụ thuộc vào xăng khoáng. Ngược lại, dòng tiền có dịch chuyển sang nhóm doanh nghiệp sản xuất ethanol và nhiên liệu sinh học.
Bối cảnh và các dữ kiện cần theo dõi
Độ trễ chính sách (policy lag) từ Nghị quyết 29 đến hiệu ứng giá thực tế trên thị trường xăng dầu có thể kéo dài 2-4 quý, phụ thuộc vào tốc độ điều chỉnh công thức giá cơ sở.
Cục Đăng kiểm Việt Nam (Bộ Xây dựng) được yêu cầu rà soát hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phương tiện sử dụng động cơ xăng. Kết quả rà soát có thể ảnh hưởng đến tiêu chuẩn khí thải và mức tiêu hao nhiên liệu, từ đó tác động đến chi phí vận hành.
Lộ trình nâng tỷ lệ phối trộn ethanol vào xăng khoáng trong giai đoạn tới đang được nghiên cứu. Nếu tỷ lệ tăng, nhu cầu ethanol trong nước sẽ mở rộng, tạo cơ hội cho các nhà máy sản xuất ethanol và đồng thời gây áp lực lên cán cân thương mại mặt hàng này.
Xử lý lượng xăng không chì tồn kho là một yếu tố cần theo dõi. Chính phủ có cơ chế xử lý lượng xăng RON95-III còn tồn, tác động đến dòng tiền và chi phí lưu kho của các thương nhân đầu mối.
Các yếu tố hình thành giá xăng E10 RON95-III hiện do Bộ Công Thương và Bộ Tài chính xác định. Thị trường kỳ vọng các yếu tố này bao gồm: giá xăng gốc, chi phí pha trộn ethanol, thuế, phí, lợi nhuận định mức. Bất kỳ sự điều chỉnh nào cũng sẽ ảnh hưởng đến mặt bằng giá xăng trong nước.