Hiện tượng thực tế và những mảnh ghép thông tin
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất kiểm toán năm 2025. Theo đó, lãi sau thuế đạt 51.881 tỉ đồng, cao gấp 6,3 lần so với năm 2024.
Doanh thu thuần cả năm đạt 645.658 tỉ đồng, tăng 11% so với năm trước. Giá vốn ở mức 549.307 tỉ đồng, tăng gần 3,5% – thấp hơn nhiều tốc độ tăng doanh thu.
Lợi nhuận gộp của EVN đạt 96.351 tỉ đồng, tăng hơn 94% so với năm 2024. Chi phí tài chính ghi nhận 23.654 tỉ đồng, tăng gần 8%, nhưng chi phí lãi vay giảm từ 17.038 tỉ đồng xuống 16.647 tỉ đồng.
Kết quả đột biến này đã giúp EVN xóa sạch khoản lỗ lũy kế kéo dài. Tại ngày 31-12-2025, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối đạt 5.533 tỉ đồng, so với lỗ lũy kế 38.556 tỉ đồng cuối năm 2024.
| Chỉ tiêu tài chính EVN | Năm 2025 | Năm 2024 | Thay đổi |
|---|---|---|---|
| Doanh thu thuần | 645.658 tỉ đồng | ~581.000 tỉ đồng | +11% |
| Giá vốn | 549.307 tỉ đồng | ~531.000 tỉ đồng | +3,5% |
| Lợi nhuận gộp | 96.351 tỉ đồng | ~49.600 tỉ đồng | +94% |
| Lãi sau thuế | 51.881 tỉ đồng | ~8.200 tỉ đồng | +6,3 lần |
| Lỗ lũy kế cuối kỳ | 5.533 tỉ đồng (lãi) | -38.556 tỉ đồng | Xóa sạch |
| Tiền gửi ngân hàng (các kỳ hạn) | 152.443 tỉ đồng | ~85.600 tỉ đồng | +78% |
Bảng cân đối kế toán ghi nhận tổng tài sản hợp nhất hơn 783.089 tỉ đồng, tăng gần 16%. Nợ phải trả ở mức 523.450 tỉ đồng, tăng hơn 10%.
Vốn chủ sở hữu tại thời điểm 31-12-2025 là 232.580 tỉ đồng. EVN đang làm việc với cơ quan nhà nước về phương án điều chỉnh vốn điều lệ.
Bản chất dòng tiền đang vận hành ra sao
Lợi nhuận đột biến của EVN đến từ chênh lệch giữa tốc độ tăng doanh thu (+11%) và tốc độ tăng giá vốn (+3,5%). Điều này phản ánh hiệu quả từ việc điều chỉnh giá điện.
Theo bài báo, EVN đã bốn lần điều chỉnh giá điện từ đầu năm 2023. Các mức tăng lần lượt 3%, 4,5% và hai lần 4,8% – lần gần nhất vào ngày 10-5-2025.
Chi phí lãi vay giảm nhẹ từ 17.038 tỉ đồng xuống 16.647 tỉ đồng, cho thấy áp lực chi phí vốn đã hạ nhiệt. Tuy nhiên, tổng nợ phải trả vẫn tăng 10% lên 523.450 tỉ đồng.
Lượng tiền gửi ngân hàng lên tới 152.443 tỉ đồng (gồm 20.055 tỉ đồng tiền và tương đương tiền, 132.388 tỉ đồng tiền gửi có kỳ hạn). Đây là mức thanh khoản rất lớn, tăng 78% so với đầu năm.
Dòng tiền ròng từ hoạt động kinh doanh dương mạnh đã tạo ra lượng tiền mặt lớn. EVN chọn gửi ngân hàng thay vì tái đầu tư ngay, phản ánh tâm lý phòng thủ tài sản (risk-off) ở cấp độ tập đoàn.
Độ trễ chính sách (policy lag) trong điều chỉnh giá điện đã được hóa giải. Việc tăng giá điện giúp EVN bù đắp chi phí đầu vào, nhưng áp lực từ lạm phát và sức mua có thể ảnh hưởng đến các lần tăng giá tiếp theo.
Bối cảnh và các dữ kiện cần theo dõi
Theo Nghị quyết số 189 của Quốc hội, EVN sẽ tăng vốn điều lệ từ nguồn đánh giá lại tài sản đã hết khấu hao. Điều này liên quan đến dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.
Giá trị tài sản và vốn chủ sở hữu có thể thay đổi sau khi thực hiện đánh giá lại theo quy định. Đây là yếu tố có thể tác động đến cơ cấu tài chính của EVN trong trung hạn.
Các yếu tố cần theo dõi tiếp theo:
- Khả năng điều chỉnh giá điện trong năm 2026 và tác động đến biên lợi nhuận.
- Tiến độ giải ngân nguồn tiền mặt 152.000 tỉ đồng cho các dự án đầu tư hạ tầng.
- Kết quả đánh giá lại tài sản và tác động đến vốn điều lệ.
- Diễn biến chi phí lãi vay khi mặt bằng lãi suất có thể thay đổi.
- Áp lực từ lỗ lũy kế của các tổng công ty con nếu có.
EVN mua điện bình quân tháng 3 là 1.907,65 đồng/kWh, thấp hơn giá bán lẻ bình quân. Điều này cho thấy biên lợi nhuận vẫn có thể được duy trì nếu giá đầu vào không tăng đột biến.
Bài báo gốc không đưa ra khuyến nghị đầu tư. Mọi thông tin chỉ mang tính tham khảo dựa trên số liệu công bố chính thức từ báo cáo tài chính đã kiểm toán.