Xuất khẩu rau quả Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao trong năm 2026. Dữ liệu từ Báo Điện tử Chính phủ cho thấy kim ngạch tháng 5/2026 đạt 614,8 triệu USD.
Con số này tăng 15,1% so với tháng 4/2026 và chỉ giảm nhẹ 0,3% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm, tổng kim ngạch đạt khoảng 2,98 tỷ USD.
Mức tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước đạt 29,4%. Ngành hàng đang hướng tới mục tiêu xuất khẩu 10 tỷ USD trong năm 2026.
Hiện tượng thực tế và những mảnh ghép thông tin
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), nhiều loại trái cây chủ lực đang bước vào vụ thu hoạch chính. Các mặt hàng gồm sầu riêng, vải thiều, xoài, dừa.
Nguồn cung dồi dào từ các vùng nguyên liệu trong nước được kỳ vọng tạo động lực cho quý II và quý III. Cơ cấu xuất khẩu đang chuyển dịch tích cực sang nhóm sản phẩm chế biến.
Số liệu sơ bộ của Cục Hải quan trong 4 tháng đầu năm 2026 cho thấy:
- Nhóm hàng chế biến chiếm 35,82% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả.
- Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với mức 29,33% của cùng kỳ năm 2025.
Xu hướng gia tăng tỷ trọng chế biến góp phần nâng cao giá trị gia tăng và giảm phụ thuộc vào tính mùa vụ của trái cây tươi. Dưới đây là chi tiết kim ngạch các mặt hàng chủ lực trong 4 tháng đầu năm 2026:
| Mặt hàng | Kim ngạch (triệu USD) | Tăng trưởng so với cùng kỳ 2025 |
|---|---|---|
| Sầu riêng tươi & đông lạnh | 293,13 | +59,7% |
| Hạt dẻ cười | 224,63 | +204% |
| Dừa & sản phẩm chế biến từ dừa | 198,38 | +15% |
Ngoài ra, các sản phẩm thanh long, mít, chanh leo tiếp tục hưởng lợi từ nhu cầu ổn định tại Trung Quốc, Hoa Kỳ và Hàn Quốc. Một điểm sáng chiến lược là việc ký kết Nghị định thư về kiểm dịch thực vật cho quả bưởi tươi và chanh tươi.
Thỏa thuận được ký giữa Bộ NN&MT Việt Nam và Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC). Đây là kết quả đàm phán kỹ thuật kéo dài từ năm 2019.
Cũng trong tháng 4/2026, lô bưởi tươi đầu tiên của Việt Nam đã được xuất khẩu bằng đường hàng không tới Australia.
Bản chất dòng tiền đang vận hành ra sao
Dòng tiền xuất khẩu đang tập trung vào các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh về mùa vụ và nghịch vụ. Sầu riêng dẫn đầu nhờ lợi thế thu hoạch nghịch vụ và việc phê duyệt đồng loạt mã số vùng trồng.
Hiệu lực của Nghị định thư xuất khẩu sầu riêng đông lạnh sang Trung Quốc tạo ra kênh phân phối mới. Giá trị xuất khẩu sầu riêng tăng 59,7% phản ánh rõ tác động của chính sách mở cửa thị trường.
Xu hướng chuyển dịch sang sản phẩm chế biến (từ 29,33% lên 35,82%) cho thấy chiến lược nâng cao giá trị gia tăng đang phát huy tác dụng. Điều này giúp giảm áp lực về tính thời vụ và rủi ro tồn kho.
Về mặt vĩ mô, ngành rau quả đã tăng trưởng từ mức 3,3 tỷ USD năm 2022 lên 8,5 tỷ USD năm 2025. Mức tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) đạt khoảng 37% trong giai đoạn này.
Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh từ các nước xuất khẩu khác trong khu vực như Thái Lan, Philippines vẫn hiện hữu. Chi phí logistics và yêu cầu kiểm dịch ngày càng khắt khe là các rào cản cần vượt qua.
Bối cảnh và các dữ kiện cần theo dõi
Mục tiêu 10 tỷ USD đặt ra yêu cầu về chuẩn hóa vùng nguyên liệu và nâng cao năng lực chế biến. Các yếu tố cần theo dõi trong các quý tới bao gồm:
- Tiến độ mở cửa thị trường chính ngạch cho bưởi và chanh tại Trung Quốc.
- Khả năng mở rộng xuất khẩu sầu riêng đông lạnh sang các thị trường mới ngoài Trung Quốc.
- Biến động nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường lớn: Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Australia.
Báo Điện tử Chính phủ dẫn thông tin cho thấy ngành hàng đang chuyển mạnh sang sản xuất xanh và chuẩn hóa vùng nguyên liệu. Đây là yếu tố dài hạn để duy trì tăng trưởng bền vững.
Rủi ro tiềm ẩn đến từ chính sách thương mại của các nước nhập khẩu và biến động tỷ giá. Các doanh nghiệp xuất khẩu cần theo dõi sát sao chi phí vốn và lãi suất USD để quản trị rủi ro tài chính.