Hiện tượng thực tế và những mảnh ghép thông tin
Hội thảo khoa học do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp cùng Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) và Viện Kinh tế và Dịch vụ Nhân sinh tổ chức sáng 15/7 tại Hà Nội đã đưa ra các luận điểm về thực trạng thực hiện mục tiêu đến năm 2030.
Tiến sỹ Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch VFCA, nhấn mạnh mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm cho giai đoạn 2026-2030 theo Đại hội XIV. Đây là mục tiêu đầy khát vọng và hoàn toàn khả thi, nhưng đòi hỏi khai thác sâu dư địa tăng trưởng, đổi mới mô hình phát triển và cải cách thể chế.
Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, song theo ông Nghĩa vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ, đặc biệt về năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng tăng trưởng, phát triển kinh tế số, nguồn nhân lực chất lượng cao và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.
| Chỉ tiêu | Giá trị | Nguồn |
|---|---|---|
| Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân | Trên 10%/năm | Đại hội XIV (2026-2030) |
| Lĩnh vực AI ưu tiên tập trung nguồn lực | CNTT, tài chính-ngân hàng, KHCN, công nghiệp chế biến-chế tạo | GS.TS Nguyễn Quang Thuấn |
| Thời điểm vàng tạo bước ngoặt AI | Đến năm 2028 | GS.TS Nguyễn Quang Thuấn |
| Ba đột phá trọng tâm | Thể chế & quản trị; lực lượng sản xuất (số hóa, công nghiệp mũi nhọn); khơi thông nguồn lực & chống lãng phí | PGS.TS Phạm Thị Túy |
| Bệ đỡ của kỷ nguyên số | Công nghiệp bán dẫn, AI, năng lượng sạch | PGS.TS Phạm Thị Túy |
Bản chất dòng tiền đang vận hành ra sao
Mục tiêu tăng trưởng trên 10%/năm đặt ra áp lực lớn lên huy động vốn đầu tư toàn xã hội. Nếu không có cải cách thể chế thực chất, dòng vốn có thể bị hút vào các kênh kém hiệu quả hoặc phải đối mặt với rủi ro lạm phát do tăng trưởng tín dụng nóng.
Việc xác định AI, bán dẫn, năng lượng sạch là bệ đỡ cho thấy định hướng phân bổ vốn ngân sách và vốn đầu tư công vào hạ tầng kỹ thuật chiến lược dùng chung, như trung tâm siêu tính toán và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia. Điều này có thể tạo hiệu ứng lan tỏa đến các ngành công nghệ cao, nhưng cũng đặt ra thách thức về chi phí vốn và thời gian hoàn vốn dài.
Kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng nhất, song năng lực công nghệ và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước còn thấp. Dòng vốn FDI có thể được thu hút mạnh hơn nếu Việt Nam cải thiện môi trường đầu tư gắn với chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, rủi ro về độ trễ chính sách (policy lag) và khả năng thực thi các nghị quyết vẫn hiện hữu.
Các chuyên gia tại hội thảo đều thống nhất rằng việc hiện thực hóa mục tiêu chỉ khả thi khi triển khai đồng bộ các giải pháp với quyết tâm chính trị cao và hành động quyết liệt. Điều này tạo ra một kỳ vọng tích cực có điều kiện, nhưng chưa đủ căn cứ để dự báo dòng tiền ngắn hạn.
Bối cảnh và các dữ kiện cần theo dõi
GS.TS Nguyễn Quang Thuấn nhấn mạnh từ nay đến năm 2028 là thời điểm vàng để tạo bước ngoặt trong ứng dụng AI. Ông đề xuất tập trung nguồn lực vào bốn lĩnh vực: công nghệ thông tin và truyền thông, tài chính-ngân hàng, khoa học-công nghệ, công nghiệp chế biến-chế tạo.
PGS.TS Phạm Thị Túy chỉ ra ba đột phá cần thực hiện: đột phá về thể chế và quản trị quốc gia hiện đại; đột phá về lực lượng sản xuất thông qua chuyển đổi số và phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn; khơi thông nguồn lực và chống lãng phí.
PGS.TS Vũ Văn Phúc nhấn mạnh mục tiêu đến năm 2030 gắn với dấu mốc 100 năm thành lập Đảng, tạo nền tảng cho khát vọng phát triển đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Những dữ kiện cần theo dõi trong thời gian tới bao gồm: tiến độ xây dựng chiến lược quốc gia về AI; kế hoạch đầu tư công vào hạ tầng số; cải cách thể chế về đất đai, tài chính, và lao động; cũng như các chỉ số kinh tế vĩ mô như CPI, PPI, tăng trưởng tín dụng và dòng vốn FDI thực tế.