Hiện tượng thực tế và những mảnh ghép thông tin
Bộ Tài chính công bố tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2026 đạt 1.568,2 nghìn tỷ đồng. Con số này tương đương 62% dự toán năm và tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước.
Thu ngân sách Trung ương đạt khoảng 63,8% dự toán. Thu ngân sách địa phương đạt khoảng 60,3% dự toán.
| Chỉ tiêu | Giá trị (nghìn tỷ đồng) | % dự toán | Tăng/giảm so với cùng kỳ |
|---|---|---|---|
| Tổng thu NSNN | 1.568,2 | 62,0% | +17,4% |
| Thu nội địa | 1.352,7 | 61,5% | +16,5% |
| Thu nội địa (loại trừ đặc thù) | - | 64,2% | +27,2% |
| Thu từ dầu thô | - | 72,4% | +26,1% |
| Thu cân đối XNK | - | 66,0% | +22,9% |
| Tổng chi NSNN | 1.149,1 | 36,4% | xấp xỉ cùng kỳ |
| Chi đầu tư phát triển | 357,1 | 31,9% | +13,9% |
Thu nội địa đóng góp lớn nhất với 1.352,7 nghìn tỷ đồng. Nếu loại trừ các khoản đặc thù (tiền sử dụng đất, xổ số, cổ tức, lợi nhuận sau thuế, chênh lệch thu-chi NHNN), thu nội địa vẫn đạt 64,2% dự toán và tăng trưởng 27,2%.
Động lực tăng trưởng đến từ ba khu vực sản xuất kinh doanh trọng điểm, thuế thu nhập cá nhân và hoạt động xổ số kiến thiết.
Thu từ dầu thô đạt 72,4% dự toán, tăng 26,1% so với cùng kỳ. Giá dầu thế giới bình quân 6 tháng đạt 94,97 USD/thùng, cao hơn 24,97 USD so với giá xây dựng dự toán. Sản lượng khai thác đạt 4,26 triệu tấn, tương đương 53,3% dự toán.
Thu cân đối từ xuất nhập khẩu đạt 66% dự toán, tăng 22,9% so với cùng kỳ.
Về chi ngân sách, tổng chi 1.149,1 nghìn tỷ đồng, bằng 36,4% dự toán. Chi đầu tư phát triển đạt 357,1 nghìn tỷ đồng (31,9% dự toán), tăng 13,9% so với cùng kỳ. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt 35,5% kế hoạch Thủ tướng giao, thấp hơn 0,5% so với cùng kỳ nhưng giá trị tuyệt đối cao hơn 38,5 nghìn tỷ đồng.
Chi trả nợ lãi đạt 49,7% dự toán. Chi thường xuyên đạt 40,4% dự toán.
Ngân sách Trung ương đã chi từ nguồn dự phòng (bao gồm năm trước chuyển sang) tổng trị giá 24,8 nghìn tỷ đồng để khắc phục thiên tai, dịch bệnh, an ninh quốc phòng và xử lý đột xuất.
Huy động vốn qua phát hành trái phiếu Chính phủ đạt 182,6 nghìn tỷ đồng, kỳ hạn bình quân 9,36 năm, lãi suất phát hành bình quân 4,11%/năm.
Bản chất dòng tiền đang vận hành ra sao
Dữ liệu thu ngân sách 6 tháng phản ánh hai xu hướng dòng tiền chính: động lực tăng trưởng từ khu vực sản xuất kinh doanh và sự phụ thuộc vào giá hàng hóa toàn cầu.
Thu nội địa tăng 16,5% (27,2% nếu loại trừ yếu tố đặc thù) cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh nội địa đang phục hồi mạnh. Thuế thu nhập cá nhân tăng phản ánh thu nhập người lao động cải thiện. Tuy nhiên, tỷ trọng thu từ xổ số kiến thiết vẫn đáng kể, cho thấy một phần dòng tiền chảy vào kênh tiêu dùng có tính chu kỳ.
Thu từ dầu thô vượt dự toán nhờ giá dầu cao hơn kỳ vọng 24,97 USD/thùng. Sản lượng chỉ đạt 53,3% dự toán, cho thấy nguồn thu chủ yếu đến từ yếu tố giá, không phải sản lượng. Điều này tạo rủi ro nếu giá dầu điều chỉnh giảm trong nửa cuối năm.
Thu cân đối xuất nhập khẩu tăng 22,9% phù hợp với xu hướng thương mại toàn cầu phục hồi. Tuy nhiên, cần theo dõi biến động tỷ giá và chính sách thương mại của các đối tác lớn.
Về chi tiêu, tỷ lệ giải ngân đầu tư công 35,5% thấp hơn cùng kỳ 0,5% nhưng giá trị tuyệt đối cao hơn 38,5 nghìn tỷ đồng. Điều này cho thấy quy mô kế hoạch đầu tư công năm 2026 lớn hơn, nhưng tốc độ giải ngân vẫn chậm. Áp lực dồn vào nửa cuối năm khi cần đẩy nhanh giải ngân để đạt kế hoạch.
Lãi suất trái phiếu Chính phủ bình quân 4,11%/năm với kỳ hạn 9,36 năm cho thấy chi phí vốn của Chính phủ đang ở mức thấp, hỗ trợ cho kế hoạch vay nợ và tái cấu trúc nợ công.
Dòng tiền từ ngân sách vào nền kinh tế qua kênh chi đầu tư phát triển vẫn còn hạn chế. Trong khi đó, thu ngân sách vượt tiến độ tạo dư địa cho các gói hỗ trợ hoặc giảm thuế nếu cần thiết.
Bối cảnh và các dữ kiện cần theo dõi
Các yếu tố vĩ mô có thể ảnh hưởng đến thu – chi ngân sách trong nửa cuối năm 2026:
- Giá dầu thế giới: Giá bình quân 94,97 USD/thùng trong 6 tháng đầu năm. Nếu giá giảm về mức dự toán (70 USD/thùng), thu từ dầu thô sẽ chịu áp lực giảm mạnh.
- Tiến độ giải ngân đầu tư công: Cần đạt tối thiểu 95-100% kế hoạch năm. Với tỷ lệ hiện tại 35,5%, áp lực giải ngân 6 tháng cuối rất lớn.
- Thu nội địa: Động lực từ khu vực sản xuất kinh doanh có thể duy trì nếu tăng trưởng GDP ổn định. Tuy nhiên, rủi ro lạm phát và lãi suất có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp.
- Chính sách tài khóa: Khả năng điều chỉnh thuế, phí hoặc tăng chi từ nguồn dự phòng (24,8 nghìn tỷ đồng đã sử dụng) để hỗ trợ tăng trưởng.
- Huy động vốn qua trái phiếu Chính phủ: Lãi suất 4,11% và kỳ hạn dài tạo điều kiện thuận lợi. Nếu lãi suất thị trường tăng, chi phí vay mới sẽ cao hơn.
- Biến động tỷ giá USD/VND: Ảnh hưởng đến thu cân đối xuất nhập khẩu và giá trị các khoản thu bằng ngoại tệ.
Kiểm toán Nhà nước đã kiến nghị tăng thu, giảm chi ngân sách 10.042 tỷ đồng, cùng kiến nghị khác 28.663 tỷ đồng và 4.577.148 USD. Điều này cho thấy còn dư địa để cải thiện hiệu quả quản lý ngân sách.
Nhìn chung, số liệu thu ngân sách 6 tháng phản ánh nền tảng tài khóa tích cực, nhưng tốc độ giải ngân đầu tư công và sự phụ thuộc vào giá dầu là hai điểm cần theo dõi chặt chẽ trong nửa cuối năm.