Hiện tượng thực tế và những mảnh ghép thông tin
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa có báo cáo gửi Bộ Công Thương về tình hình triển khai hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS), nhằm đảm bảo cấp điện giai đoạn 2030.
Theo nội dung báo cáo, EVN đã giao các đơn vị EVNHANOI và EVNNPC triển khai hệ thống BESS tại miền Bắc với tổng quy mô công suất 805 MW trên lưới điện phân phối.
Trong đó, dự kiến đưa vào hoàn thành cuối năm 2026 là 700 MW và đầu năm 2027 là 105 MW.
Kết quả tính toán của Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO) cho thấy nhu cầu lắp đặt BESS khu vực miền Bắc năm 2026 dao động 1.348 - 2.856 MW.
Đến năm 2030, con số này có thể tăng lên 1.734 - 6.563 MW, tương ứng với bốn kịch bản tăng trưởng phụ tải.
| Chỉ tiêu | Giá trị / Mốc thời gian | Nguồn |
|---|---|---|
| Quy mô BESS đang triển khai (miền Bắc) | 924 MW (bổ sung), tổng 1.734 MW | EVN |
| Kế hoạch vận hành BESS bổ sung | Đầu năm 2027 | EVN |
| Nhu cầu BESS miền Bắc (2026) | 1.348 - 2.856 MW | NSMO |
| Nhu cầu BESS miền Bắc (2030) | 1.734 - 6.563 MW | NSMO |
| Kịch bản tăng trưởng phụ tải áp dụng | 8,5% | NSMO |
| Quy hoạch điện VIII điều chỉnh: tổng BESS toàn quốc đến 2030 | 10.000 - 16.300 MW | Quy hoạch điện VIII |
| Công suất BESS giai đoạn 1 (EVNNPC) | 305 MW, hoàn thành cuối tháng 6-2026 | EVNNPC |
EVN cho rằng việc triển khai đầu tư quy mô BESS đòi hỏi nhu cầu vốn bổ sung rất lớn, vượt quá khả năng cân đối và thu xếp nguồn vốn của tập đoàn và các đơn vị.
Trên cơ sở rà soát, EVN đang tiếp tục đầu tư thêm gần 924 MW BESS tại miền Bắc với mục tiêu đưa vào vận hành trong năm 2027. Tổng quy mô BESS do EVN đầu tư tại miền Bắc đạt khoảng 1.734 MW.
Bản chất dòng tiền đang vận hành ra sao
Việc EVN đề xuất bổ sung quy mô BESS phản ánh áp lực gia tăng từ nhu cầu phủ đỉnh phụ tải và giảm quá tải lưới điện miền Bắc, đặc biệt sau các đợt thiếu hụt nguồn mùa khô.
Dòng tiền đầu tư vào hạ tầng lưu trữ năng lượng đang đối mặt với rủi ro thanh khoản khi EVN đồng thời phải tập trung vốn cho các dự án nguồn và lưới điện trọng điểm.
Chi phí vốn cho BESS là rất lớn, vượt quá khả năng cân đối nội bộ, buộc EVN phải kiến nghị Bộ Công Thương phân bổ kế hoạch và huy động thêm nguồn lực từ bên ngoài.
Chủ tịch EVN Đặng Hoàng An nhấn mạnh yêu cầu nhìn nhận BESS trong tổng thể nhiều vai trò, không chỉ giới hạn ở phủ đỉnh phụ tải và giảm quá tải.
Từ góc nhìn thị trường năng lượng, việc chuyển sang cơ chế giá điện hai thành phần (tính theo kWh và kW) sẽ tạo động lực đầu tư BESS, nhưng độ trễ chính sách (policy lag) vẫn là rào cản.
Các khó khăn hiện hữu bao gồm quy hoạch, loại hình đầu tư, lựa chọn vị trí lắp đặt, hệ thống tiêu chuẩn - quy chuẩn và an toàn cháy nổ.
Bối cảnh và các dữ kiện cần theo dõi
Chủ tịch EVNNPC Đỗ Nguyệt Ánh cho biết kết quả tính toán ban đầu cho thấy tổng công suất BESS có thể lắp đặt tại các đơn vị trực thuộc đạt khoảng 530 MW, với thời gian lưu trữ 2 giờ, tương đương 1.060 MWh.
Giai đoạn 1 đang triển khai với tổng công suất 305 MW, dự kiến hoàn thành cuối tháng 6-2026. Các giai đoạn tiếp theo sẽ được thực hiện sau đó.
Bộ Công Thương được đề nghị sớm phân bổ trong tháng 6-2026 cho các địa phương kèm theo tiến độ yêu cầu trước mùa khô năm 2027, đưa vào kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII điều chỉnh.
EVN cũng đề nghị Bộ Công Thương hướng dẫn UBND các tỉnh tạo điều kiện cho các chủ đầu tư ngoài EVN, khu công nghiệp, cụm công nghiệp tham gia đầu tư BESS và điện mặt trời tự sản/tự tiêu.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tổng quy mô pin lưu trữ năng lượng toàn quốc đến năm 2030 đạt từ 10.000 - 16.300 MW.
Các yếu tố cần theo dõi bao gồm tiến độ phê duyệt của Bộ Công Thương, khả năng huy động vốn của EVN, sự tham gia của khu vực tư nhân, và tiến độ xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn cho hệ thống BESS.