Hiện tượng thực tế và những mảnh ghép thông tin
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam ước đạt 29,82 tỷ USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Riêng tháng 5/2026, xuất khẩu đạt 6,46 tỷ USD, tăng 1% so với tháng trước và tăng 4,8% so với cùng kỳ.
Phân tích theo nhóm hàng, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 15,51 tỷ USD (tăng 0,5%); sản phẩm chăn nuôi đạt 308 triệu USD (tăng 43,2%); thủy sản đạt 4,65 tỷ USD (tăng 10,6%); lâm sản đạt 7,65 tỷ USD (tăng 4,5%); đầu vào sản xuất đạt 1,7 tỷ USD (tăng 83%); muối đạt 6,7 triệu USD (tăng 45,8%).
Bảng dưới đây tổng hợp các chỉ số chính:
| Nhóm hàng | Giá trị (tỷ USD) | Thay đổi so với cùng kỳ (%) |
|---|---|---|
| Nông sản | 15,51 | +0,5 |
| Chăn nuôi | 0,308 | +43,2 |
| Thủy sản | 4,65 | +10,6 |
| Lâm sản | 7,65 | +4,5 |
| Đầu vào sản xuất | 1,70 | +83,0 |
| Muối | 0,0067 | +45,8 |
Xét theo thị trường, châu Á chiếm 44% thị phần xuất khẩu, tiếp theo là châu Mỹ 21,3% và châu Âu 15,1%. Trong 5 tháng đầu năm, giá trị xuất khẩu sang châu Á tăng 12,1%; châu Âu tăng 3,7%; châu Đại Dương tăng 24,8%; trong khi châu Mỹ giảm 3,3% và châu Phi giảm 18%.
Ba thị trường đơn lẻ lớn nhất: Trung Quốc (20,8% thị phần, tăng 26,5%), Hoa Kỳ (18,8%, giảm 5,1%), Nhật Bản (6,9%, tăng 2%).
Bản chất dòng tiền đang vận hành ra sao
Dòng tiền xuất khẩu nông lâm thủy sản thể hiện sự dịch chuyển cơ cấu thị trường rõ nét. Khu vực châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, đang hấp thụ mạnh hàng Việt Nam, với mức tăng 26,5% – cao nhất trong các thị trường chính.
Ngược lại, xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 5,1% phản ánh áp lực từ chính sách thương mại và nhu cầu tiêu dùng điều chỉnh. Sự sụt giảm này diễn ra trong bối cảnh đồng USD mạnh và chi phí logistics toàn cầu biến động.
Nhóm đầu vào sản xuất tăng trưởng đột biến 83% cho thấy nhu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến trong nước và xuất khẩu gia tăng. Điều này tạo áp lực lên cán cân thương mại nội ngành.
Ở chiều nhập khẩu, tổng kim ngạch nhập khẩu nông lâm thủy sản 5 tháng đầu năm đạt 22,28 tỷ USD, tăng 12,6% so với cùng kỳ. Giá trị nhập khẩu nông sản tăng 16,4% và sản phẩm chăn nuôi tăng 29,7% – cho thấy sự phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài đang lớn dần.
Thặng dư thương mại ngành nông lâm thủy sản 5 tháng đạt 7,54 tỷ USD (29,82 – 22,28), thấp hơn so với cùng kỳ năm trước nếu tính tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn xuất khẩu.
Bối cảnh và các dữ kiện cần theo dõi
Một số mặt hàng chủ lực ghi nhận diễn biến trái chiều về lượng và giá:
- Gạo: xuất khẩu 4,5 triệu tấn (tăng 6,6% về lượng) nhưng giá trị chỉ đạt 2,09 tỷ USD (giảm 3,6%) – giá gạo bình quân giảm.
- Cà phê: xuất khẩu 972.000 tấn (tăng 13% về lượng) nhưng giá trị đạt 4,41 tỷ USD (giảm 9,8%) – giá cà phê thế giới hạ nhiệt.
- Cao su: xuất khẩu 525,2 nghìn tấn (giảm 4,5% về lượng) và giá trị 987,3 triệu USD (giảm 5,8%) – cả lượng và giá đều suy yếu.
Thị trường gạo chủ yếu là Philippines (46,9%), Trung Quốc (17,8%) và Ghana (7,5%). Cà phê tiêu thụ mạnh tại Đức, Italia và Hoa Kỳ. Cao su phụ thuộc lớn vào Trung Quốc (64% thị phần).
Nhập khẩu nông lâm thủy sản chủ yếu từ châu Á (32,6%) và châu Mỹ (21,8%). Giá trị nhập khẩu từ châu Á tăng 16,9%, từ châu Đại Dương tăng 22,9% – phản ánh nhu cầu nguyên liệu và thực phẩm nhập khẩu gia tăng.
Các chỉ số cần theo dõi trong nửa cuối năm: biến động giá hàng hóa toàn cầu (đặc biệt gạo, cà phê), chính sách thương mại của Hoa Kỳ, và tốc độ tăng trưởng nhập khẩu đầu vào sản xuất. Nếu nhập khẩu tiếp tục tăng nhanh hơn xuất khẩu, thặng dư thương mại ngành có thể thu hẹp.