Hiện tượng thực tế và những mảnh ghép thông tin
Theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên (được TTXVN/Vietnam+ dẫn lại ngày 03/06/2026), lũy kế giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến đầu tháng 6/2026 là hơn 2.400 tỷ đồng.
Tỷ lệ giải ngân đạt hơn 26% so với kế hoạch vốn được giao. Trong đó, thanh toán vốn kế hoạch năm 2026 đạt hơn 33% kế hoạch do Thủ tướng Chính phủ giao.
| Chỉ tiêu | Giá trị | Nguồn |
|---|---|---|
| Lũy kế giải ngân đầu tháng 6/2026 | > 2.400 tỷ đồng | UBND tỉnh Thái Nguyên |
| Tỷ lệ giải ngân tổng thể | ~26% kế hoạch | UBND tỉnh Thái Nguyên |
| Tỷ lệ giải ngân năm 2026 | > 33% kế hoạch Thủ tướng | UBND tỉnh Thái Nguyên |
Qua thống kê của Sở Tài chính Thái Nguyên, có 9 chủ đầu tư có tỷ lệ giải ngân cao hơn mức bình quân chung 15% của các chủ đầu tư cấp tỉnh. Các đơn vị này gồm: Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Thái Nguyên, UBND xã Bằng Thành, Sở Tài chính, Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh, UBND xã Đại Phúc, Công an tỉnh, Ban Quản lý các dự án vốn nước ngoài, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp tỉnh, UBND xã Quảng Bạch.
Ngược lại, 3 chủ đầu tư có tỷ lệ giải ngân dưới mức bình quân chung. Đặc biệt, 19 chủ đầu tư cấp tỉnh chưa phát sinh số giải ngân.
Đối với giải ngân vốn của các xã, phường, lũy kế đến cuối tháng 5/2026 đạt hơn 578 tỷ đồng (tỷ lệ 18% so với kế hoạch). Trong số 92 xã, phường, có 35 xã có tỷ lệ giải ngân cao hơn tỷ lệ chung, 57 xã thấp hơn, và 15 xã chưa phát sinh giải ngân (Đức Lương, Phú Lạc, Thượng Minh, Xuân Dương, Na Rì...).
Nguyên nhân chính được nêu là vướng mắc về bồi thường giải phóng mặt bằng và tái định cư. Một số hộ dân chưa nhất trí với giá đền bù, phương án tái định cư.
Các dự án bị ảnh hưởng điển hình gồm: tuyến đường nối ĐT.261-ĐT.266 (giai đoạn II), cầu Quang Vinh 1 và 2, đường vành đai I (đoạn Bờ Đậu, Phú Lương - Đồng Hỷ), tuyến tránh đô thị Đồng Hỷ, mở rộng khu tái định cư Khu công nghiệp Sông Công 2.
Bên cạnh đó, biến động giá nhiên liệu đẩy giá cước vận chuyển và nguyên vật liệu xây dựng (cát, đá, xi măng) tăng mạnh, ảnh hưởng đến thẩm định dự toán và chi phí thi công.
Bản chất dòng tiền đang vận hành ra sao
Dữ liệu giải ngân đầu tư công tại Thái Nguyên phản ánh độ trễ chính sách (policy lag) rõ rệt giữa kế hoạch phân bổ vốn và thực tế triển khai.
Tỷ lệ giải ngân tổng thể chỉ 26% sau gần nửa năm cho thấy dòng tiền từ ngân sách chưa thực sự luân chuyển vào nền kinh tế địa phương. Điều này tạo áp lực thanh khoản cho các nhà thầu và chuỗi cung ứng vật liệu.
Rủi ro chi phí vốn gia tăng do biến động giá nhiên liệu và vật liệu xây dựng. Khi giá đầu vào tăng nhưng tiến độ giải ngân chậm, nhà thầu phải đối mặt với chênh lệch dự toán và chi phí thực tế, làm giảm biên lợi nhuận (EBITDA margin).
Số lượng lớn chủ đầu tư chưa phát sinh giải ngân (19 đơn vị cấp tỉnh, 15 xã/phường) cho thấy tâm lý phòng thủ tài sản (risk-off) ở cấp quản lý địa phương. Rào cản hành chính và giải phóng mặt bằng là trở lực chính.
Trên góc nhìn vĩ mô, tình trạng này tương đồng với chu kỳ chậm giải ngân đầu tư công giai đoạn 2022-2024 trên phạm vi cả nước, khi tỷ lệ giải ngân trung bình thường chỉ đạt 30-40% vào giữa năm. Nguyên nhân cốt lõi vẫn là sự phối hợp giữa các cấp ngành và khâu đền bù, tái định cư kéo dài.
Bối cảnh và các dữ kiện cần theo dõi
Các giải pháp từ phía Sở Tài chính Thái Nguyên tập trung vào ba hướng: đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, điều chỉnh dự toán theo giá thị trường, và yêu cầu nhà thầu cam kết tiến độ.
Sở Tài chính đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các chủ đầu tư tập trung thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư; bảo đảm bàn giao mặt bằng sớm nhất cho dự án.
Sở Xây dựng được giao hướng dẫn xử lý chênh lệch giá vật liệu, nhiên liệu để các nhà thầu có cơ sở triển khai. Các chủ đầu tư được yêu cầu lập kế hoạch giải ngân chi tiết theo tháng, quý và tuân thủ nghiêm.
Đối với các công trình trọng điểm, nhà thầu phải bổ sung máy móc, nhân lực, tổ chức thi công “3 ca, 4 kíp” tranh thủ thời tiết thuận lợi. Hồ sơ thanh toán cần hoàn thiện kịp thời để giải ngân qua Kho bạc Nhà nước.
Nhìn rộng ra, câu chuyện giải ngân chậm tại Thái Nguyên đặt ra vấn đề về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công trong bối cảnh lãi suất và chi phí vốn có xu hướng duy trì ở mức cao. Các nhà đầu tư theo dõi lĩnh vực hạ tầng và vật liệu xây dựng cần đánh giá rủi ro thanh khoản của các doanh nghiệp có hợp đồng với ngân sách địa phương.