Hiện tượng thực tế và những mảnh ghép thông tin
Theo báo cáo từ Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) được phản ánh trên báo Tuổi Trẻ, doanh thu hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 94.146 tỉ đồng. Riêng tháng 6, doanh thu đạt 17.118 tỉ đồng.
Nộp ngân sách Nhà nước lũy kế 6 tháng đạt 14.368 tỉ đồng. Tiền lương bình quân dự kiến đạt 19,7 triệu đồng/người/tháng.
| Chỉ tiêu | Tháng 6/2026 | Lũy kế 6 tháng |
|---|---|---|
| Than nguyên khai sản xuất | 3,3 triệu tấn | 19,6 triệu tấn |
| Than sạch sản xuất | 3,4 triệu tấn | 19,7 triệu tấn |
| Tiêu thụ than | 5,06 triệu tấn | 27,38 triệu tấn |
| Sản lượng than giao cho điện | 4,25 triệu tấn | 22,77 triệu tấn |
| Sản xuất Alumina | 122.500 tấn | 705.700 tấn |
| Tiêu thụ Alumina | 145.300 tấn | 645.400 tấn |
| Sản xuất điện | 1.023 triệu kWh | 5.782 triệu kWh |
| Sản xuất thuốc nổ | 36.574 tấn | — |
| Amon nitrat sản xuất | 14.000 tấn | 92.920 tấn |
Nguồn: TKV (dẫn lại từ báo Tuổi Trẻ ngày 3/7/2026).
Bản chất dòng tiền đang vận hành ra sao
Dữ liệu từ TKV cho thấy dòng tiền hoạt động đang chịu áp lực từ chi phí đầu vào gia tăng. TKV nhận định cuộc xung đột tại Trung Đông tiếp tục tác động đến chuỗi cung ứng toàn cầu.
Giá nhiên liệu, vật tư đầu vào tăng cao làm tăng chi phí sản xuất. Điều này thể hiện qua biên lợi nhuận bị thu hẹp dù doanh thu danh nghĩa tăng.
Nghịch lý cung - cầu than đang hiện hữu rõ rệt. Phó vụ trưởng Vụ Dầu khí và Than Trịnh Đức Duy cho biết nhu cầu than cho điện năm 2026 lên tới 85,28 triệu tấn.
Trong khi đó, khả năng khai thác than bình quân trong nước chỉ đạt khoảng 40-45 triệu tấn/năm. Việt Nam buộc phải nhập khẩu khoảng 17-19 triệu tấn than bitum/á bitum cho điện, tương đương 20-22% nhu cầu.
Điều này tạo ra rủi ro về chi phí vốn và rủi ro tỉ giá. Khi giá than nhập khẩu biến động mạnh, biên lợi nhuận của TKV và các nhà máy nhiệt điện sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp.
Ở chiều ngược lại, tiêu thụ than trong tháng 6 đạt 5,06 triệu tấn, cao hơn sản xuất than sạch (3,4 triệu tấn). Phần chênh lệch đến từ tồn kho và nhập khẩu. Dòng tiền ròng từ hoạt động bán than vẫn dương, nhưng áp lực chi phí logistic và giá vốn hàng bán gia tăng.
Bối cảnh và các dữ kiện cần theo dõi
Bước sang tháng 7/2026, TKV dự báo doanh thu hợp nhất toàn tập đoàn đạt 15.281 tỉ đồng, thấp hơn so với tháng 6 (17.118 tỉ đồng). Sự sụt giảm này phản ánh tính thời vụ rõ rệt.
Nhu cầu sử dụng than dự báo có chiều hướng giảm do sản lượng điện than giảm khi mùa mưa đến, ưu tiên tăng công suất thủy điện. Thời tiết bất thường với nắng nóng cường độ cao và dông lốc, mưa lớn cũng là yếu tố rủi ro.
Về dài hạn, lãnh đạo Bộ Công Thương yêu cầu các đơn vị mua và sử dụng than nhập khẩu cần khẩn trương rà soát toàn bộ các hợp đồng. Chủ động làm việc với các đối tác cung cấp than để có phương án phù hợp.
Việc phụ thuộc vào nhập khẩu than với tỉ lệ 20-22% nhu cầu cho điện tạo ra độ nhạy cảm cao với giá hàng hóa quốc tế và biến động tỉ giá USD/VND. Đây là yếu tố cần theo dõi đối với nhà đầu tư quan tâm đến cổ phiếu ngành năng lượng và vật liệu cơ bản.
Đối với các trader hàng hóa, sản lượng than giao cho điện tháng 6 đạt 4,25 triệu tấn — mức cao cho thấy nhu cầu điện vẫn là yếu tố hỗ trợ giá than trong nước ngắn hạn. Nhưng xu hướng giảm theo mùa từ tháng 7 có thể tạo áp lực lên giá cổ phiếu ngành than.
Tất cả dữ liệu trên chỉ mang tính thông tin tham khảo. Người đọc tự đưa ra quyết định dựa trên đánh giá rủi ro cá nhân.