Hiện tượng thực tế và những mảnh ghép thông tin
Ngày 23/7/2026, tại Hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn” do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức, bà Hà Thu Giang – Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế Ngân hàng Nhà nước – công bố số liệu tín dụng tính đến 13/7/2026.
Dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025. Hệ thống ngân hàng đã cung ứng thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế trong nửa đầu năm.
GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18% so với cùng kỳ, cao hơn mức 7,63% của cùng kỳ năm 2025 và là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2026.
| Chỉ tiêu | Giá trị | Nguồn |
|---|---|---|
| Dư nợ tín dụng (13/7/2026) | ~20,1 triệu tỷ đồng | NHNN (bà Hà Thu Giang) |
| Tăng trưởng tín dụng (so cuối 2025) | +7,86% | NHNN |
| Vốn bơm thêm nửa đầu năm | ~1,46 triệu tỷ đồng | NHNN |
| GDP 6 tháng 2026 | +8,18% (yoy) | Tổng cục Thống kê |
| Tỷ lệ tín dụng/GDP (cuối 2025) | ~146% | Báo cáo chuyên gia |
Các chương trình tín dụng chuyên ngành cũng ghi nhận kết quả cụ thể: cho vay nông lâm thủy sản giải ngân lũy kế hơn 225.577 tỷ đồng (đạt 122% mục tiêu); tín dụng nhà ở xã hội theo Nghị quyết 33/NQ-CP giải ngân 12.440 tỷ đồng; cho vay liên kết sản xuất lúa gạo chất lượng cao tại ĐBSCL giải ngân 4.400 tỷ đồng; tín dụng hạ tầng điện, giao thông, công nghệ chiến lược dư nợ 11.649 tỷ đồng.
Bản chất dòng tiền đang vận hành ra sao
Dòng tiền tín dụng đang được bơm mạnh vào nền kinh tế, nhưng cấu trúc cung ứng vốn vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Tỷ lệ tín dụng/GDP cuối năm 2025 ở mức khoảng 146% – thuộc nhóm cao đối với các quốc gia thu nhập trung bình thấp.
Rủi ro chênh lệch kỳ hạn gia tăng khi tín dụng trung và dài hạn vẫn chủ yếu được tài trợ từ nguồn vốn huy động ngắn hạn. Điều này tạo áp lực lên quản trị rủi ro thanh khoản của các tổ chức tín dụng.
Tiến sỹ Cấn Văn Lực (chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính – tiền tệ Quốc gia) nhận định: dư địa mở rộng tín dụng ngân hàng không còn nhiều. Ở giai đoạn tăng trưởng trên 10%, tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP của nhiều quốc gia thường dao động 39%–43%.
Mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn và lao động không thể kéo dài. Cần chuyển sang dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách thể chế và nâng cao năng suất.
Nhà báo Phạm Đức Sơn – Tổng Biên tập Tạp chí Nhà đầu tư – chỉ ra các kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng vẫn còn nhiều dư địa. Tính đến cuối tháng 5/2026, vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đạt hơn 10,6 triệu tỷ đồng (82,6% GDP ước tính năm 2025). Dư nợ trái phiếu doanh nghiệp mới đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng (khoảng 10% GDP) – con số khiêm tốn so với nhiều nền kinh tế.
Bối cảnh và các dữ kiện cần theo dõi
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026–2030, nhu cầu vốn rất lớn. Theo tính toán của Bộ Tài chính, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026–2030 cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương bình quân 7,7 triệu tỷ đồng/năm – gấp hơn hai lần giai đoạn 2021–2025.
| Nguồn vốn | Giá trị (triệu tỷ đồng) | Tỷ trọng |
|---|---|---|
| Vốn Nhà nước | 8,5 | ~22% |
| Vốn đầu tư nước ngoài | 4,8 | ~12% |
| Khu vực tư nhân trong và ngoài nước | 25,5 | ~65% |
| Tổng | 38,5 | 100% |
Vốn tư nhân phải đóng góp gần 2/3 nhu cầu đầu tư. Vì vậy, bài toán không chỉ là huy động thêm vốn mà còn phải mở rộng và nâng cao hiệu quả các kênh dẫn vốn, theo Tiến sỹ Cấn Văn Lực.
Thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các quỹ đầu tư vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Đầu tư công có thể mở rộng nhưng cần nâng cao hiệu quả giải ngân.
Nhà báo Phạm Đức Sơn nhấn mạnh: các kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng cần phát triển nhanh hơn để chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn trung và dài hạn với hệ thống ngân hàng.
Thông tin trên được trích dẫn từ bài viết “Mục tiêu tăng trưởng hai con số: Không thể chỉ trông vào vốn ngân hàng” trên VietnamPlus (ngày 23/7/2026) và các phát biểu tại Hội thảo do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức.