Hiện tượng thực tế và những mảnh ghép thông tin
Theo quy định mới của Chính phủ, EVN phải rà soát và báo cáo chi phí tính giá bán lẻ điện bình quân trước ngày 25 đầu tiên của các quý 2, 3, 4. Lần báo cáo gần nhất phải hoàn thành trước 25/7/2026.
Giá bán lẻ điện bình quân hiện hành được điều chỉnh lần gần đây nhất vào ngày 10/5/2025, tăng 4,8% lên mức 2.204,0655 đồng/kWh (chưa gồm VAT).
| Chỉ số | Giá trị |
|---|---|
| Giá điện bình quân hiện hành | 2.204,0655 đồng/kWh |
| Mức tăng lần điều chỉnh gần nhất (10/5/2025) | +4,8% |
| Ngưỡng tăng không điều chỉnh | < 2% |
| Ngưỡng tăng cần báo cáo Bộ Công Thương | 2% – 5% |
| Ngưỡng giảm có thể điều chỉnh | ≥ 1% |
Theo báo cáo của EVN, trong 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 171,54 tỉ kWh, tăng 9,85% so với cùng kỳ 2025.
Hệ thống điện liên tục lập kỷ lục: sản lượng điện ngày cao nhất đạt 1.215,4 triệu kWh (ngày 25/6), công suất cực đại đạt 57.537 MW (ngày 24/6).
Trong cơ cấu nguồn điện 6 tháng đầu năm, điện than chiếm tỉ trọng gần 55%, thủy điện chỉ chiếm 21%, điện khí chiếm 8%, năng lượng tái tạo chiếm gần 13%.
Các tổ máy chạy dầu (Nhiệt điện Ô Môn) và một số tổ máy tua bin khí đã chuyển nhiên liệu từ khí thiên nhiên sang DO để tăng công suất khả dụng, cho thấy chi phí biên sản xuất tăng cao.
Bản chất dòng tiền đang vận hành ra sao
Dòng tiền của EVN đang chịu áp lực kép từ chi phí nhiên liệu đầu vào và cơ cấu nguồn phát kém tối ưu. Tỉ trọng thủy điện chỉ 21% trong khi nhu cầu tăng gần 10% khiến hệ thống phải huy động các nguồn giá cao (than, khí, dầu).
Chi phí phát điện tăng làm giá thành sản xuất điện bình quân có xu hướng đi lên, tạo áp lực tăng giá bán lẻ trong kỳ điều chỉnh tới. Mức tăng từ 2-5% sẽ nằm trong thẩm quyền của EVN sau khi có ý kiến từ Bộ Công Thương.
Ở chiều ngược lại, lợi nhuận hợp nhất sau thuế năm 2025 của EVN đạt 51.881,9 tỉ đồng (theo báo cáo kiểm toán). Công ty mẹ EVN lãi 39.762 tỉ đồng, giúp giảm lỗ lũy kế xuống còn 5.611 tỉ đồng.
Tuy nhiên, còn 17.500 tỉ đồng chênh lệch tỉ giá chưa phân bổ, đây là khoản chi phí tài chính tiềm ẩn có thể ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh các quý sau. Chi phí vốn và rủi ro tỉ giá là yếu tố cần theo dõi khi đánh giá khả năng điều chỉnh giá.
Với cơ chế điều chỉnh 3 tháng/lần, giá điện được kỳ vọng phản ánh sát hơn chi phí thực tế, giảm độ trễ chính sách (policy lag) so với trước đây.
Bối cảnh và các dữ kiện cần theo dõi
- Hạn chót báo cáo chi phí của EVN: 25/7/2026. Bộ Công Thương có 15 ngày để trả lời, EVN có 5 ngày sau đó để điều chỉnh giá.
- Giá điện tăng sẽ tác động trực tiếp lên chi phí sản xuất của các doanh nghiệp niêm yết ngành thép, xi măng, hóa chất, thực phẩm – nơi điện chiếm tỉ trọng lớn trong giá vốn.
- Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu ngành điện (NT2, POW, REE, GEG) có thể phản ứng theo diễn biến giá điện và kế hoạch huy động nguồn.
- Đối với thị trường năng lượng quốc tế: giá than, khí LNG và dầu thô (Brent, WTI) ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí phát điện của Việt Nam. Nếu giá nhiên liệu thế giới duy trì ở mức cao, áp lực lên giá điện trong nước càng lớn.
- Nhà đầu tư cần theo dõi chỉ số CPI tháng 7 và 8, vì điều chỉnh giá điện thường có độ trễ 1-2 tháng trước khi tác động lên lạm phát tiêu dùng.